CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ
HAY SỰ KHẲNG ĐỊNH CÁI TÔI
CỦA QUANG TRUNG VÀ GIA LONG
(Ngày 16/11/2025)
Những người nghiên cứu sử, đọc học sử, kể cả người tay ngang, nghiên cứu nghiệp dư, cho rằng vua Quang Trung chưa phải là người thống nhất đất nước, bởi theo họ trong thời điểm Tây Sơn làm chủ đất nước thì trong Nam vẫn còn có Nguyễn Ánh đang hoạt động tìm mọi cách chống lại nhà Tây Sơn. Sau đó thì cuộc khởi binh, chống cự ròng rã, miệt mài của Nguyễn Ánh đã đi đến thành công. Không ai có thể phủ nhận chiến thắng của Nguyễn Ánh với hơn 20 năm chiêu tập binh mã, nuôi chí phục thù, chờ đợi thời cơ phản công. Còn trên thực tế, đứng về mặt công tội của ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, nói đốn nhập đó là hai gương mặt, hai con người đại diện cho trường hợp gọi là lưỡng phiên lịch sử 两反歷史: hai mặt khác nhau của hai con người đại diện cho hai trường phái lịch sử. Một bên đánh giặc cứu nước, một bên rước giặc phá nước; một bên mở đầu công cuộc thống nhất đất nước, một bên theo hoàn cảnh mà cho thuyền đi-thuận cảnh hành châu 順景行舟. Chớ Quang Trung và Gia Long không thể là hai nhân vật đối đầu lịch sử được, như trường hợp lưỡng hổ tương đấu: hai cọp đánh nhau, hay lưỡng long tranh châu: hai rồng tranh ngọc, và lưỡng long triều nguyệt: hai rồng chầu mặt trăng. Thêm lưỡng long tranh quốc: hai vua tranh nước. Ai gọi Gia Long và Quang Trung là hai nhân vật đối đầu trong lịch sử là rất sai, không đúng, bởi hai con người này mà ở đâu người kia có mặt thì ở đó người còn lại đã bỏ chạy, chưa bao giờ Gia Long và Quang Trung mặt đối mặt giao chiến, bởi Gia Long không phải là địch thủ của Quang Trung trên nhiều phương diện, xét về lý trí cũng như sức khỏe, mưu mô chính trị, cả phép nhập xuất trận mạc, khả năng đọc trận-tiên đoán thời cuộc. Mà nơi nào có Quang Trung thì nơi đó không có Gia Long. Nói theo lý duyên khởi Phật giáo hễ cái này có thì cái kia không. Sự thật đó đã rất đúng cả khi Quang Trung đã không còn nữa, bởi tiếng thét núi Bân Sơn, tiếng trống trận nửa đêm trừ tịch vẫn còn rền vang khắp non sông, tại năm cửa Thăng Long thành, trải dài trên con đường thiên lý Bắc Nam, thì mãi đến 10 năm sau Nguyễn Ánh mới bắt đầu công khai xuất hiện. Thậm chí, khi đã làm chủ được Phú Xuân, Gia Long cũng không làm gì được lăng mộ, dấu tích của ngài để rửa mối hận "khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc khi chau đôi mày... Trích Kiều" khi từng bị ngài đánh đuổi chạy khắp hang cùng ngõ hẻm khi xưa như ghi chép của sử triều Nguyễn. Bởi thực tế hiện trường đã cho biết, dựa theo các bài thơ ám chỉ mật mã của các danh sĩ các thời kỳ, khởi đầu là danh sĩ Ngô Thì Nhậm với Khâm Vãn Đan Dương Lăng, rồi Nguyễn Du với Vọng Thiên Thai Tự, sau là Bà Huyện Thanh Quan với Thiên Thai Hoài Cổ (không phải Thăng Long Hoài Cổ), qua phát hiện của chúng tôi. Thì Gia Long ngày ấy chỉ quật phá được dấu tích, lăng mộ giả của ngài tại Cung điện Đan Dương 宮殿丹陽 chùa Thiền Lâm 單林. Còn linh cữu, thi hài thật của ngài đã được ban tham mưu Tây Sơn di dời về chôn giấu dưới Cung điện ngầm dưới chánh điện ngôi chùa Thiên Thai 天台 tọa lạc trên đỉnh đồi núi Dương Xuân Sơn 陽春山, ngày nay là kiệt 15 Minh Mạng thành phố Huế, kế bên đàn Nam Giao triều Nguyễn.
Thiên Thai Thiền Tự, nơi chôn giấu thi hài, linh cữu vua Quang Trung dưới Cung điện ngầm dưới chánh điện ngôi chùa
Cho nên không thể nói Quang Trung và Gia Long là hai nhân vật đối đầu lịch sử được, kéo theo việc cả hai đã từng gặp nhau trên vùng sông nước thì càng không thể. Trận Rạch Gầm-Xoài Mút năm 1785 đã chứng minh rồi, trận này Nguyễn Ánh dựa, núp sau lưng Chiêu Tăng, Chiêu Sương và binh sĩ Xiêm La. Khi 5 vạn liên quân Xiêm-Nguyễn bị hốt sạch, Nguyễn Ánh đã biến mất tăm dạng tự thuở nào. Mặc xác đồng minh và quan binh dưới trướng nổi trôi, lềnh bềnh đầy mặt sông Rạch Gầm, thán khí xông ngút trời. Thế làm sao gọi đó là hai con người đối đầu lịch sử? Tài năng đánh trận, thống trị vùng sông nước của Quang Trung Nguyễn Huệ đã từng được thi hào Nguyễn Du thi hóa như sau, qua nhân vật mã hóa 𝗞𝘆̀ Hải 其海, không phải Từ Hải 徐海, đơn cử các câu 2173-2174:
Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Hay:
Giang hồ quen thói vẫy vùng,
江湖涓趣浘𤀘
Gươm 𝘁𝗶̀𝗻𝗵 nửa 𝗸𝘆́ non sông một chèo...
劍彈姅挭嫩滝没𢴿...
Câu 2173 "Giang hồ quen thói vẫy vùng" là ám chỉ, bóng gió, nói trại của thành ngữ tang hồ bồng thỉ 桑弧蓬矢, nói tắt là tang bồng 桑蓬, tang bồng 桑蓬 là cung gỗ dâu, tên cỏ bồng, ý nói chí khí nam nhi ngang dọc bốn phương trời đất. Câu 2173 Nguyễn Du sử dụng chỉ cho tính cách, con người ngang dọc xem coi trời đất như cỏ rác của Nguyễn Huệ. Trong câu 2173 có chữ "hồ", "hồ" vốn là họ gốc của các anh em Tây Sơn, xuất xứ từ phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, dưới chân núi Đài Phong, từ mạch núi Đại Hải kéo xuống, thuộc làng Thái Lão. "Hồ" qua 4 lần mở âm chuyển cách viết (hồ 弧-ô 涴-uyên 宛-oản 朊) thì "hồ" cũng đọc là Nguyễn. Nguyễn 阮 là họ của các anh em Tây Sơn được cha mẹ thay đổi từ khi tộc Hồ rời quê hương Hưng Nguyên vào sinh sống, lập nghiệp tại vùng Tây Sơn thượng đạo, ngày nay là An Khê, sau chuyển xuống vùng Tây Sơn hạ đạo, bên dòng sông Côn, theo lệnh đi đày biệt xứ của quân Nguyễn từ thế kỷ 17. Đến đời ông Hồ Phi Phúc, thân phụ các anh em Tây Sơn, mới dời về quê vợ là bà Nguyễn Thị Đồng ở thôn Phú Lạc, ấp Kiên Thành (nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Sau một thời gian, ông Hồ Phi Phúc mới dời sang thôn Kiên Mỹ, gần bên bờ sông Côn. Tại đây, thôn Kiên Mỹ, các anh em Tây Sơn được sinh ra và lớn lên. Tính ra, qua bốn đời, trong hơn một thế kỷ, dòng dõi Nguyễn Huệ di chuyển quê hương qua bốn nơi: Nghệ An, Tây Sơn thượng đạo, Phú Lạc, Kiên Mỹ. Tài liệu dựa theo sách Quang Trung-Nguyễn Huệ, con người và sự nghiệp, trang 11-12-13-14. Tác giả Giáo sư sử học Phan Huy Lê.

Trước đó là đoạn xuất hiện nhân vật 𝗞𝘆̀ Hải 其海 như đã nói, từ câu 2165 đến câu 2172:
Lầu cao gió mát trăng thanh,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
Râu hùm 𝗺𝗮̆́𝘁 𝗻𝗴𝗵𝗶̣𝗰𝗵 mày đ𝗶𝗲̂𝘂,
Vai năm tấc rộng thân 𝗱𝗮̀𝗶 𝗿𝗼̂́𝗻 cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ 𝗞𝘆̀ tên Hải vốn người 𝗯𝗶𝗲̣̂𝘁 𝗺𝗼̂𝗻𝗴...
Chữ "Kỳ 其" (không phải Từ 徐, chữ đã bị chỉnh sửa) câu 2172 cũng đọc là ký. Ký 幾 đọc kỷ. Kỷ 己 là can thứ 6 trong thập can. Từ chữ "Kỳ 其" giả tá 假借-vay mượn, đã dẫn ra chữ kỷ 己 của can kỷ thứ 6, ý Nguyễn Du ám chỉ năm Kỷ Dậu 己酉 1789 với trận đại thắng quân Thanh của Hoàng đế Quang Trung chỉ trong 5 ngày đầu xuân. Chữ "Hải 海" (chữ giả tá 假借) còn lại Nguyễn Du sử dụng chỉ vào núi Đại Hải ở làng Thái Lão phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An như trên đã nói.
Hai chữ "biệt mông" có nghĩa như sau. "Biệt 別" là chia ly, từ biệt, ly biệt, "mông 蒙" là tối tăm, như chỗ mặt trời lặn gọi là đại mông 大蒙. Đại mông 大蒙 là vùng Tây Sơn thượng 西山上, ngày nay là An Khê, nơi xưa kia, vào thế kỷ thứ 17, tổ tiên, dòng tộc các anh em Nguyễn Huệ bị quân Nguyễn bắt đày đi "biệt xứ", đã tìm lên sinh sống, lập nghiệp trên vùng đất khỉ ho cò gáy, sơn lam chướng khí này. Sau chuyển xuống Tây Sơn hạ đạo, bên dòng sông Côn, sinh ra các anh em Tây Sơn. Những chữ nghĩa của Nguyễn Du sử dụng dùng để cài nén, ẩn giấu những bí mật lịch sử là không sai, bởi tác giả là người đương thời, chỉ do về sau truyện đã bị chỉnh sửa quá nhiều, nên bị biến dạng thành những câu chữ vô hồn, vô nghĩa, rỗng tuếch, từ đó kéo theo cái hiểu lầm lạc, mù mờ của cả một dân tộc, đất nước, không riêng bộ môn văn học, để rồi tất cả đã xúm cho truyện Kiều là của người Tàu, của Thanh Tâm Tài Nhân người bên ấy sáng tác, Nguyễn Du chỉ có công dựa vào câu chuyện văn học hư cấu đó dịch diễn ra 3254 câu lục bát.
Quang Trung và Gia Long là hai con người đối lập hoàn toàn. Chúng ta chọn bên nào?
Tóm lại. Nói Gia Long là người thống nhất đất nước thực chất đây chỉ là đường lối ngụy biện vừa mang tính loại bỏ công sức, thành quả thống nhất, làm chủ đất nước của Tây Sơn vừa đề cao, tâng bốc Nguyễn Ánh. Để làm sáng tỏ luận điểm kép tựa một đề văn lung khởi chúng ta hãy đọc một số thông tin, tài liệu về những cuộc khởi nghĩa của nông dân và các lãnh tụ kháng chiến chống lại vương triều Nguyễn sau khi họ làm chủ đất nước, thời điểm nhà Tây Sơn đã không còn nữa.
1-Gia Long 1802-1820 có 50 cuộc khởi nghĩa chống lại ông (sách Lịch sử cùa Am của trưởng lão Thông Lạc thì xác định ngay từ năm 1802-1812 đã có 70 cuộc khởi nghĩa của nông dân).
2-Minh Mạng 1820-1840 có 254 cuộc khởi nghĩa.
3-Thiệu Trị 1840-1847 có 58 cuộc khởi nghĩa.
4-Tự Đức 1847-1862 có 40 cuộc khởi nghĩa.
Tiêu biểu nhất trong các cuộc khởi nghĩa chống lại triều Nguyễn là hai cuộc khởi nghĩa cánh Bắc do Phan Bá Vành và Cao Bá Quát lãnh đạo. Ở miền Nam còn có cuộc khởi nghĩa quy mô của Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt. Thực chất Lê Văn Duyệt cũng là người nuôi mộng lật đổ, chống lại triều Nguyễn nhưng ý định bất thành. Điểm lại hai cuộc khởi nghĩa cánh Bắc. Cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành nổi lên từ năm 1821, mãi đến năm 1827 triều đình mới dẹp yên. Từ căn cứ Nam Định nó đã mở rộng ra đến Thái Bình, Hải Dương, An Quảng. Đã có 7.000-8.000 ngàn người bị bắt. Làng Trà Lũ (Nam Định), căn cứ hoạt động nghĩa quân bị lính triều đình phá rụi, đốt sạch. Cuộc khởi nghĩa của danh sĩ/chính khách Cao Bá Quát nổi lên năm 1854 tại Ứng Hòa-Hà Tây, đã phát động, loang rộng ra đến Hà Nội, Hưng Yên, nghe nói do chưa tập trung đủ lực lượng tinh nhuệ, khí giới trang bị cần thiết cho cuộc tổng tiến công thì đã bị triều đình Huế cử đại binh đánh dẹp vào năm 1855. Cao Bá Quát bị xử chém đầu. Họ Cao từ đó bị Tự Đức và triều Nguyễn lùng sục tru di tam tộc. Để được tồn tại, sống còn, thời ấy những người họ Cao tìm mọi cách chuyển sang họ khác thì may ra.
Riêng miền Nam, năm 1833, ở Phiên An (Gia Định) như đã nói đã nổ ra cuộc khởi nghĩa quy mô do Lê Văn Khôi lãnh đạo. Binh lính kết hợp với nông dân nhiều nơi đã có lúc làm chủ các tỉnh Nam Bộ, nhưng đến năm 1835 thì bị quân đội triều đình đàn áp, giải tán.
Ở nửa đầu thế kỉ XIX, các dân tộc ít người ở phía Bắc cũng như phía Nam đã nhiều lần nổi dậy chống chính quyền, tìm mọi cách đánh dẹp chế độ vương triều bóc lột gia tộc Nguyễn Gia Miêu.
Phía Bắc còn có cuộc khởi nghĩa của người Tày (Cao Bằng) dưới sự lãnh đạo của Nông Văn Vân vào các năm 1833-1835, của người Mường ở Hoà Bình và Tây Thanh Hoá dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng họ Quách với danh nghĩa "phù Lê diệt Nguyễn" vào các năm 1832-1838. Ở vùng Tây Nam Kỳ, vào các năm 1840-1848, nhiều cuộc khởi nghĩa của người Khơ-me đã nổ ra, gây nhiều khó khăn cho sự nghiệp cai trị của nhà Nguyễn.
Với tất cả các cuộc khởi nghĩa nói trên, cũng còn nhiều nữa, chưa phải hết, của nhiều người, nhiều lãnh tụ, nhiều nơi đứng lên chống lại vương triều Nguyễn mà nếu cuộc khởi nghĩa nào thành công thì chắc chắn, họ sẽ chiếm lấy chính quyền, thiết lập nền cai trị, thay mặt tổ chức đứng lên làm vua, lập ra triều đại mới, thay triều đại cũ. Còn nếu nội bộ cuộc khởi nghĩa đó không có người có khả năng đứng lên làm vua, cai trị trăm họ, thì tổ chức sẽ tìm người khác, ở bên ngoài đưa lên, ngồi vào chiếc ngai quyền lực soạn sẵn. Đó cũng không khác trường hợp nhà Lê thời trước kia là mấy. Chuyện này như sau. Vào năm Mậu Thân 戊申 1548 vua Lê Trang Tông mất, trùm quyền lực Trịnh Kiểm mới lập thái tử Duy Huyên lên làm vua, tức vua Lê Trung Tông, được 8 năm thì mất. Rắc rối chỗ vua Trung Tông cũng không có con nối dõi, dòng họ Lê cũng không còn ai. Binh quyền thì Trịnh Kiểm nắm hết trong tay.
Ghi chép lịch sử cho biết, Trịnh Kiểm đã muốn soán ngôi vua lúc ấy, nhưng chưa dám thực hiện ý đồ, bởi uy đức nhà Lê chưa hết, cũng như người phò Lê còn quá mạnh. Trịnh Kiểm bèn đi một nước cờ mang màu sắc tâm linh huyền bí, âm thầm cho người ra Hải Dương vấn Trạng Trình nên làm gì lúc này. Cụ Trạng lúc ấy không nói gì, mặt nhìn vách, phán: "Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ". Nghe nói cụ Trạng còn chêm thêm: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản".
Nghe xong, sứ giả lật đật chạy về báo cáo tình hình. Trịnh Kiểm nghe qua, liền hiểu ý, cho người đi tìm con cháu họ Lê. Thực chất đây chỉ là câu chuyện bịa của các sử gia hòng tô đậm sự mầu nhiệm, thiêng liêng để rồi từ một người này sẽ dắt dây qua người khác và cứ thế loan truyền mãi ra, từ đó trở thành một truyền thuyết, truyền thống bất di dịch, được cẩn trọng ghi vào biên niên sử thời đại, thời kỳ. Đặt người đọc, người nghe vào vị trí chỉ có tin và tin. Trong khi sự thật thì không phải như vậy. Tiếp đó, khi đã tìm ra được người cháu huyền tôn ông Lê Trừ, là anh của vua Lê Trung hưng Thái Tổ, tên là Duy Bang, ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, rước về tôn lên làm vua.
(Dựa theo Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, trang 254)
Ngang đây, chúng ta trở lại với chuyện khởi nghĩa chống vương triều Nguyễn. Như thế, mầm mống, mục đích của các cuộc khởi nghĩa phải chăng là tập trung, nhắm vào việc truất phế, lật đổ nhà vua thể chế đương thời, để đưa lên một nhà vua của thể chế mới? Có phải đó là bản chất muôn đời của các cuộc khởi nghĩa? Dù đó chỉ là những cuộc biểu tình-khởi nghĩa mang tính ôn hòa của dân chúng các thời kỳ của các quốc gia.
Để hiểu xa hơn câu chuyện, cũng nên bỏ chút đỉnh thời gian tìm hiểu về cuộc khởi nghĩa thắng lợi của phong trào nông dân Tây Sơn. Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn nổi lên từ năm Tân Mão 辛卯 1771 cho đến năm Bính Ngọ 丙午 1786 thì đã thành công trọn vẹn với hai tập đoàn phong kiến Nguyễn Trong, Trịnh Ngoài thi chia nhau "dựa-tiếm vương quyền" cai trị đất nước non 300 năm bị quét sạch. Lúc này đất nước đã hoàn toàn thống nhất, giang sơn được gom về một mối, bầu trời trong xanh nước Việt đã phất phới lá cờ đỏ máu đào của Tây Sơn. Cho dù miệt trong kia vẫn còn đó giọt máu dòng tộc Nguyễn Gia Miêu vẫn đang ngày đêm hoạt động chờ thời cơ phất cờ phản công. Nhưng lực lượng phản công của Nguyễn Ánh xét ra đâu đáng ngại bằng sự chống đối, xung đột của chính các anh em Tây Sơn tam kiệt? Theo chúng tôi, khi cuộc khởi nghĩa của phong trào cách mạng Tây Sơn thành công như đã nói, thì bấy giờ chính các thủ lĩnh Tây Sơn phải tìm mọi cách danh chính địa vị, tên tuổi của mình trước người dân ba miền. Không thể để một đất nước mà có tới ba lãnh tụ cai trị ba miền như thế được?
Và đó chính là lý do thiết yếu để vào tháng 9 năm Mậu Thân 戊申 1788 Bắc Bình vương Nguyễn Huệ phải bằng mọi cách thực hiện ý định đó ngay tại Phú Xuân ngay lập tức. Ngài cho lập đàn Nam Giao tại núi Bân Sơn, bước lên đọc Chiếu lên ngôi, xưng vương, lấy niên hiệu Quang Trung năm thứ nhất, trước khi kéo đội hùng binh cứu viện Tây Sơn Bắc tiến, lên đường ra mai phục tại các căn cứ địa bao quanh Thăng Long chờ giặc Thanh kéo qua thư hùng một trận sống mái biết người biết ta. Khi chiến cuộc đã lắng đọng, đất trời Thăng Long chỉ còn lại những ụ gò vùi chôn xác giặc làm chứng nhân cuộc thư hùng máu lửa lịch sử, nhà Thanh lúc ấy đã hạ mình nhượng bộ, cử người mang chiếu chỉ sang Thăng Long sắc phong Quang Trung là vua An Nam 安南. Mặc dù Quang Trung lúc ấy đã khôn khéo, tìm mọi cách thoái thác, lánh mặt, không chấp nhận việc sắc chúa phong vương của Thanh triều. Việc làm của vua Quang Trung phải nói là rất đúng, bởi đó là việc nội trị, của quyền tự chủ dân tộc của một đất nước, kẻ đứng ngoài không thể chen ngang vào việc nội trị của nước khác được. Có thể nói vua Quang Trung là một trong những người đầu tiên của nước Việt đã đứng lên hất đổ nhào chỗng gọng việc sắc chúa phong vương của người Tàu đối với quyền tự trị thể chế dân tộc kể từ khi nước Việt bắt đầu dựng quốc lập đô cho đến thời điểm đó vậy. Hậu bán kỷ 18.
Tính chính danh của lịch sử là đây: Quang Trung đại phá quân Thanh.
Theo đó, phần quan trọng nhất còn lại bây giờ của Quang Trung sau đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu 己酉 1789 là phải tiến thêm một bước: dẹp thành Hoàng đế, đưa vua anh Thái Đức Nguyễn Nhạc lui về "chái bếp hiên sau" vui hưởng thú điền viên cùng con cháu, gia đình. Toàn bộ lãnh thổ nước Việt phải là mình cai quản, thống nhất, từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Nhưng ước mộng hưng nghiệp của Quang Trung đâu phải chỉ bấy nhiêu. Mà ngài còn đi xa hơn, mộng lớn hơn. Sau chiến cuộc không lâu, ngài đã cho sứ qua Tàu nói chuyện với vua Thanh Cao Tông Càn Long xin lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây mà nghe nói vốn là đất của nước Việt đã bị người Tàu chiếm đóng, đồng thời xin cưới công chúa nhà Thanh để kết chặt tình bang giao bền chắc giữa hai bên, chấm dứt chiến cuộc triền miên của hai đất nước. Vua Càn Long đã chấp nhận lời thỉnh cầu của Quang Trung, ký giấy trả lại một trong hai đất Lưỡng Quảng, còn việc gả công chúa con mình cho Quang Trung vẫn đang tiến hành. Thực tế thì Quang Trung cũng không dừng ở đó mộng trùm trời. Ngài dõng dạc tuyên bố cho dù triều Thanh có trả lại hai đất Lưỡng Quảng hay không, có gã công chúa cho mình hay không cũng không cần thiết: "Ta sẽ dưỡng quân trong vòng 10 năm, chờ binh hùng tướng mạnh, đất nước hưng thịnh sẽ mang qua Tàu đánh một trận tưng bừng cho người Tàu biết mặt. Lúc ấy việc gì ta làm chẳng xong". Nhưng rất tiếc dự định đánh Tàu cũng như công cuộc thống nhất đất nước, nói đúng hơn là giai đoạn dẹp giặc cát cứ giữa các anh em Tây Sơn, chưa được tiến hành: hạ thành Hoàng đế lần hai, thì Quang Trung đã bất ngờ ra đi với cái chết đứng có một không hai trong lịch sử ngay tại cửa biên, bên bờ sông Tiền Đường 前堂 (sông Hương) vào tháng 9 năm Nhâm Tý 壬子 1792, nói theo Kiều, mà cuộc phục kích đánh úp Phú Xuân ngày ấy không ai khác hơn chính là Hồ Tôn Hiến Nguyễn Nhạc và các loạn tướng cuộc đảo chính là Ngô Văn Sở, Trần Quang Diệu, vvv... Như thế, xét cho thấu tình đạt lý, cho đến thời điểm ấy nước Việt đã được thống nhất bởi vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, sau khi đã loại được vua em Kỳ Hải 其海-Nguyễn Huệ sau "Năm năm hùng cứ một phương hải tần..." ra khỏi cuộc chiến tranh giành quyền lực. Bằng chứng câu chuyện tranh giành quyền lực, chia đôi đất nước cai trị của các anh em Tây Sơn ngày ấy đã được Bà Huyện Thanh Quan, một nữ sĩ danh tiếng thời ấy đưa vào trong bài thơ luật Đường Qua Hoành Sơn Quan, không phải Qua đèo Ngang, với hai câu bình-luận trái phải là: "Nhớ nước đau lòng gương quốc quốc, Thương nhà khổ miệng ảnh gia gia". "Quốc 國" là nước, hai chữ "quốc quốc 國國" là hiện trạng chia đôi đất nước của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ, mà điểm chia đôi giới tuyến quân sự hai nhà nước Tây Sơn chính là Cổng Trời Hoành Sơn Quan 橫山闗. Cửa ải ra vào trọng yếu hoặc giới tuyến quân sự này đã do chính vua Quang Trung và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đứng ra xây dựng vào năm Canh Tuất 庚戌 1790, thời điểm phái bộ ngoại giao Phú Xuân lên đường qua Tàu chúc thọ vua Thanh Cao Tông Càn Long theo lời mời của Thanh triều. Chuyến đi ấy của triều Phú Xuân ngoài nghĩa chúc thọ còn để hàn gắn vết thương chiến tranh xảy ra từ năm trước. Kỷ Dậu 己酉 1789. Câu sau nói về sự bạo ngược, bóc lột, trấn áp dân chúng của Gia Long và con cháu tộc Gia Miêu khi đã làm chủ đất nước. Qua ám chỉ của Bà Huyện, được biết thời ấy hễ ai nói đến sự cai trị tàn độc, khắc nghiệt của Gia Long và con cháu Gia Miêu thì liền bị truy sát, ghép tội, mang ra xử chém ngay lập tức. Rất tiếc là chiếc ngai quyền lực của vua anh Thái Đức 泰德 cũng không tồn tại được bao lâu, bởi 9 năm sau đó, năm Tân Dậu 辛酉 1801, tính từ năm Nhâm Tý 壬子 1792, Nguyễn Ánh đã bất ngờ kéo binh tấn công Phú Xuân, đánh lấy lại được đất của tổ tiên, đàng hoàng bước lên xưng vương vào năm Nhâm Tuất 壬戌 1802. Mở ra một triều đại, thể chế mới của gia tộc kéo dài non thế kỷ rưỡi.
Cổng Trời Hoành Sơn Quan, nơi chia đôi đất nước của hai nhà nước Tây Sơn Nam Tây Sơn Bắc
Ngày nay, nhìn lại những diễn biến lịch sử xảy ra thời ấy, công bằng mà nói, tính "chính danh" để xưng vương, bước lên làm vua cai trị nước Việt của Nguyễn Ánh thật ra không đủ, mà quyền đó thuộc về các anh em Tây Sơn, cho dù đó là Nguyễn Nhạc hay Nguyễn Huệ thì cũng như nhau. Không khác. Bởi cả hai đều có tính "chính danh" như nhau. Cho dù Gia Long ngày ấy cũng đã được triều Thanh xác nhận là vua An Nam 安南. Nhưng điều đó không cần, nếu không muốn nói là không đúng, bởi nó không giá trị về mặt thực tế, tức chủ quyền đất nước, lãnh thổ. Tính "chính danh" muốn nói ở đây là sự khởi nghiệp, mục đích cuộc dấy binh. Phong trào khởi nghĩa Tây Sơn dấy binh như đã nói chỉ với mục đích là dẹp loạn cát cứ vùng miền chia nhau "tiếm vương quyền" cai trị đất nước non 300 năm Nguyễn Trong, Trịnh Ngoài. Tiếp đó, Tây Sơn đã liên tiếp hai lần đánh bại mộng cướp nước của hai nhà nước Xiêm-Thanh mà cả hai đều có bàn tay nhúng chàm, tiếp sức của Nguyễn Ánh. Việc rước quân Xiêm La vào đất nước của Nguyễn Ánh thì đã rõ ràng, cụ thể. Còn đây là việc tiếp tế của Nguyễn Ánh cho quân Mãn Thanh, xin chép lại như sau: "... Cũng thời gian đó, một chi tiết được tiết lộ khiến vua Quang Trung phải cảnh giác. Khi Tôn Sĩ Nghị (đúng ra là Lâm Sĩ Nghị) đem quân sang nước ta ông ta đã tuân lệnh vua Càn Long gửi thư cho Xiêm vương Trịnh Hoa (Rama I) yêu cầu điều binh chặn mặt biển để vây bắt khi Nguyễn Huệ chạy trốn. Nhận được thư này, tháng Hai năm Kỷ Dậu (1789), vua Xiêm gửi thư cho chúa Nguyễn (Nguyễn Ánh NV) điều động quân Gia Định giữ các nơi hiểm yếu và chúa Nguyễn cũng gửi 50 vạn cân gạo sang giúp quân Thanh (theo tài liệu triều Nguyễn thì bị bão mất tích). Việc đem quân đánh vào mặt Nam không biết diễn tiến ra sao vì sử triều Nguyễn giấu nhẹm chuyện này nhưng một số thủy thủ Đồng Nai bị chìm tàu được thuyền buôn người Thanh đưa về Quảng Đông, có mang theo cả thư của Xiêm La. Khi nhận được mật tín, vua Càn Long đã ra lệnh cho Phúc Khang An ỉm việc này đi để triều đình An Nam khỏi nghi ngờ (sách Giở lại một nghi án lịch sử Giả vương nhập cận-Có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung giả hay không? Tác giả Nguyễn Duy Chính, trang 38-39).
Thông tin ở trên về việc Nguyễn Ánh viện trợ cho quân Mãn Thanh theo chúng tôi là có, và có thể người Thanh cũng đã nhận được khoản viện trợ ấy, nhưng các sử gia triều Nguyễn đã tìm cách ém nhẹm sự thật, đánh lạc hướng dư luận bằng cách nói do bị mưa bão nên khoản tiếp tế chiến tranh ấy đã bị mất tích. Chớ nếu cuộc chiến ấy mà quân đội Tây Sơn thua trận thảm hại, thì các sử gia triều Nguyễn sẽ công bố thông tin viện trợ ấy của tổ tiên mình lên trên sử sách ngay liền không chậm trễ. Có thể số lương thảo viện trợ ấy của Nguyễn Ánh còn nhiều hơn nữa, bao gồm cả khí giới, thuốc men, thuyền bè, cả con người, không phải chỉ bấy nhiêu. Làm gì có chuyện viện trợ chiến trường đánh giặc mà chỉ có gạo và gạo hệt như người cúng dường chùa chiền như thế được.
Không dừng ở đó, Quang Trung còn dự định hưng binh 10 năm kéo qua Tàu đánh lấy lại hai đất Lưỡng Quảng cho tổ tiên. Như thế, tính "chính danh" để bước lên làm vua của Tây Sơn, của Quang Trung và Nguyễn Nhạc thiết nghĩ đã quá thừa. Không còn gì phải bàn cãi. Riêng Nguyễn Ánh trong suốt thời gian hoạt động phản công từ công khai đến âm thầm chưa bao giờ có được những chiến thắng xứng đáng nào đối với giặc ngoại bang, ngược lại thì có, học, đọc, nghiên cứu lịch sử ai cũng thừa biết, Nguyễn Ánh đã tiếp tay rước ngoại bang vào tàn phá đất nước, hãm hiếp phụ nữ, trẻ em, giết dân lành vô tội, cướp tiền của, vật chất nhân dân vùng bị chiếm đóng, chống lại khởi nghĩa Tây Sơn, còn có việc cắt đất chia cho Lào, Pháp, cả Thái Lan nếu cuộc chiến sông Rạch Gầm-Xoài Mút năm 1785 thành công. Bấy nhiêu việc làm nói trên như đã xác định tính "chính danh" để có thể có được sự đồng thuận của nhân dân các vùng miền hòng bước lên xưng vương, làm vua cai trị trăm họ của Nguyễn Ánh thực chất là tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đâu có gì đâu? Đó là chúng tôi chưa nói đến điểm then chốt, quan trọng nhất của câu chuyện ai mới là người thống nhất đất nước. Nhân vật mà sử triều Nguyễn cho là Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thực chất cũng không phải là chúa gì cả, mà đó chỉ là kẻ vô danh tiểu tốt, bỏ chạy khỏi Đàng Ngoài để khỏi phải chết thảm bởi lưỡi gươm oan nghiệt của trùm quyền lực Trịnh Kiểm vào năm Mậu Ngọ 戊午1558, vào trú ẩn đất Thuận Hóa-Phú Xuân. Từ đó mới phát sinh ra 8 ông quan thái thú nối nghiệp, kế thừa. Nói như thế bởi gọi là chúa thì phải là trùm quyền lực Trịnh Kiểm ngoài kia với tính "chính danh" vốn có của mình: người "tiếm vị" quyền lực nhà Lê. Nói khác đi, Trịnh Kiểm đứng sau lưng vua Lê thâu tóm, giựt dây điều hành quyền cai trị đất nước, chớ Trịnh Kiểm cũng không dám xưng vương bởi không có tính chính danh. Đoạn dưới đây sẽ chứng minh cho luận điểm nói trên:
... Từ khi Trịnh Tùng 鄭松 dứt được họ Mạc 莫, thu giang sơn lại cho nhà Lê 棃 rồi, mỗi ngày mỗi kiêu hãnh, chiếm giữ lấy quyền chính trị và lại hà hiếp nhà vua. Họ Nguyễn 阮 ở trong Thuận Hóa 順化 thấy họ Trịnh 鄭 chuyên quyền, cũng tự xưng độc lập ở miền Nam, làm thành ra Nam Bắc đôi nơi và gây nên sự chiến tranh rất là tàn hại cho nước nhà.
Năm Kỷ Hợi 己亥 1599 đời vua Thế Tông 世宗 nhà Lê 棃, Trịnh Tùng 鄭松 thu xếp xong việc thông sứ với nhà Minh 明, và đã chịu nhường đất Cao Bằng cho con cháu nhà Mạc 莫 rồi, trong nước đã yên dần, bèn tự xưng làm Đô nguyên súy Tổng quốc chính Thượng phu Bình An vương, rồi định lệ cấp bổng cho vua được thu thuế 1.000 xã, gọi là lộc thượng tiến, cấp cho vua 5.000 lính để làm quân túc vệ. Còn những việc đặt quan, thu thuế, bắt lính, trị dân, đều thuộc về quyền họ Trịnh 鄭 cả. Chỉ có khi nào thiết triều hay là tiếp sứ thì mới cần đến vua mà thôi.

Việt Nam sử lược, tác giả sử gia Trần Trọng Kim, thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, trang 262
Từ đó về sau, họ Trịnh 鄭 cứ thế tập làm vương, tục gọi là chúa Trịnh 鄭.
Uy quyền họ Trịnh 鄭 bấy giờ hống hách như thế và các quan lại theo về họ Trịnh 鄭 cả. Giả sử Trịnh Tùng 鄭松 có muốn dứt nhà Lê 棃 đi mà làm vua, thì cũng không khó gì. Tuy vậy mà Trịnh Tùng 鄭松 không dám làm, là tại sao? Tại lẽ rằng ở phía Bắc sợ nhà Minh 明 sinh sự lôi thôi, lại có họ Mạc 莫 còn giữ đất Cao Bằng nhỡ có làm điều gì phản trắc, thì e quân nghịch nổi lên lấy phù Lê 棃 thảo Trịnh 鄭 làm cớ.
Vả chăng mặt Nam còn có họ Nguyễn 阮, thế lực cũng chẳng kém hèn gì, mà lại có ý độc lập để tranh quyền với họ Trịnh 鄭. Chi bằng không lấy nước mà cũng như lấy nước, không làm vua mà lại hơn vua. Và bao giờ có phải đi đánh dẹp nơi nào, vẫn lấy lệnh thiên tử mà sai khiến mọi người, không ai bắt bẻ gì được. Bởi thế cho nên họ Trịnh 鄭 đành chịu ngôi thứ nhì trong nước mà giữ quyền cả nước.
(Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim, trang 262-263)
Đọc trích đoạn trên, chúng ta đã biết, danh từ "chúa" có ra là từ thời Trịnh Tùng, từ năm Kỷ Hợi 己亥 1599 trở đi, sau khi trùm quyền lực Trịnh Kiểm ra đi (1570. Cũng nên biết Trịnh Tùng là con của Trịnh Kiểm). Còn ở trong Nam từ lúc ấy cho đến mãi về sau danh từ "chúa" chưa có, mà cũng làm sao có được, bởi đó là danh từ chỉ vào vị trí đứng sau lưng vua của kẻ "tiếm quyền" kia mà?
Như đã nói, "chính danh" ở đây phải là người có công trạng đánh đuổi giặc ngoại bang mới được. Sự, tính chính danh đó thuộc về vua Lê Thái Tổ sau khi đánh dẹp, đuổi được giặc Minh ra khỏi bờ cõi sau 10 năm trường kỳ kháng chiến, lập lên nhà Lê Trung hưng từ năm 1428. Còn Trịnh Kiểm hay Trịnh Tùng có gì đâu? Ngoài việc đứng sau lưng vua thâu tóm quyền hành. Nói gì Nguyễn Hoàng vốn chỉ là "kẻ đào tẩu" trong này mà đòi, mà cho là chúa? Vì thế, Nguyễn Ánh tuy đã đánh bại được nhà Tây Sơn sau hơn 20 năm miệt mài hưng nghiệp khởi binh cũng không đủ tính "chính danh" để bước lên làm vua nước Việt được. Hoàn toàn Nguyễn Ánh so về tính "chính danh" như đã nói là kẻ trắng tay. Không phải như cuộc hưng binh khởi nghĩa, lập nên sự nghiệp vẻ vang đánh dẹp thù trong giặc ngoài, tiến tới thống nhất đất nước của Tây Sơn, của các anh em Tây Sơn tam kiệt được.
Tóm lại. Cái để mà con người bước lên xưng vương, làm vua chính là tính "chính danh" của nó. Ngoài ra thì không có, không một việc làm, một đặc ân nào xen vào chỗ này được. Nguyễn Ánh Gia Long thực chất chỉ là kẻ "tiếm vị" quyền lực của nhà Tây Sơn mà thôi. Chờ thời cơ nước đục nhảy vô hưởng lợi. Đó cũng không khác trường hợp gia đình kia có miếng đất dành cho các anh em, tự dưng có kẻ nhảy vô xâm chiếm, cho mình là chủ đất. Đó có phải chính là lý do, điều kiện cơ bản, thiết thực để sau khi ngồi lên chiếc ngai hữu danh vô thực Nguyễn Ánh đã bị rất nhiều cuộc khởi nghĩa đứng lên phản công, chống lại, tổng cọng 50 cuộc dưới thời của ông. Sách Lịch sử chùa Am của trưởng lão Thích Thông Lạc, trang 51, ghi cụ thể như sau: "... Chính sách bóc lột, thống trị tàn bạo của vương triều Nguyễn làm cho mâu thuẫn giữa nông dân với chế độ phong kiến ngày càng gay gắt. Chưa có một triều đại nào trong lịch sử Việt Nam, vừa mới thành lập đã bị nông dân phản đối kịch liệt như triều nhà Nguyễn. Chúng ta hãy đọc những trang sử cận đại, để thấy rõ các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống đối các triều đại vương triều Nguyễn. Ngay từ năm 1802-1812 (thời Gia Long NV) đã có 70 cuộc khởi nghĩa của nông dân. Đến đời Minh Mạng từ năm 1820-1840, đã có 200 cuộc nổi dậy lớn nhỏ. Thời Thiệu Trị từ năm 1841-1846, chỉ 7 năm có 50 cuộc khởi nghĩa..."...
Tiếp theo, đời Tự Đức 40 cuộc. Vị chi hơn 400 cuộc khởi nghĩa nông dân trong ngoài đứng lên chống lại vương triều không có tính "chính danh". Chưa nói các đời vua tiếp theo đã bị sức kháng cự, sự tẩy chay quyết liệt của chính người Pháp, thế lực chính trị mà Nguyễn Ánh đã từng lòn cúi, trải chiếu rước vào trước kia để chống lại vương triều "chính danh" Tây Sơn. Sự việc tiếp diễn cho đến đời Bảo Đại. Ngang đây, để xác nhận vương triều Nguyễn khi bước lên làm vua, xưng vương với nhân dân trong suốt non 150 năm với 13 đời vua nối tiếp thực chất chỉ là sự áp đặt quyền lực mà nếu bất tuân thì sẽ bị tiêu diệt, tru di tam tộc, như đối với gia tộc Cao của danh sĩ/chính khách Cao Bá Quát dưới thời Tự Đức, cùng các quan binh, tướng tá, con cháu của nhà Tây Sơn. Cũng cần phải nói rõ là trong 20 năm cai trị đất nước thì bản chất hèn hạ, tiểu nhân, khát máu của kẻ làm vua không có "chính danh" đã bộc lộ ra rất rõ ràng, cụ thể, không thể cãi chối, tẩy xóa cách nào được. Trong suốt 20 năm trị vì Gia Long đã ra những chỉ thị, sắc lệnh cho đập phá, thiêu hủy hầu hết những sáng tác văn thơ cùng các công trình xây dựng của triều Tây Sơn, ngoài thành quách, cung điện và lăng tẩm, mồ mã của Quang Trung 光中, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, chánh cung Hoàng hậu Phạm Thị Doanh (ở núi Kim Phụng 金奉) còn là các ngôi chùa ở nhiều nơi, như ở Phú Xuân là chùa Kim Tiên 金仙, chùa Thiền Tôn 禅宗 (ở núi Thiên Thai 天台), chùa Thiền Lâm 禅林 do chính các chúa Nguyễn dựng lập, và chùa Thiên Đài 天䑓 (ở thôn Châu Chữ, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, thành phố Huế), ngày nay gọi là Kim Đài 金䑓. Riêng con cháu, dòng họ, những ai liên hệ đến Tây Sơn, đến Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, cùng quan binh, tướng tá Tây Sơn cũng đều bị truy sát, lùng sục tìm giết gần hết với chủ trương "diệt cỏ phải diệt tận gốc". Thì vào năm 1945 Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh từ miền Bắc đã cử phái bộ ngoại giao vào Phú Xuân làm việc, nói chuyện với Bảo Đại, đại diện cuối cùng dòng tộc phong kiến Gia Miêu, thực chất là vào đọc lệnh tịch thu ấn kiếm truyền thừa gia tộc Nguyễn Gia Miêu đã do Gia Long bày ra trước đó hòng tìm kiếm chút "chính danh" lịch sử. Đồng thời thu hồi cả kinh đô Phú Xuân, nơi đặt thế chế của dòng họ. Bấy nhiêu việc làm của Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh như đã xác nhận Bảo Đại không hề có tính "chính danh" để làm vua. Đó chỉ là thứ quyền lực hư ảo của tộc Gia Miêu do Nguyễn Ánh Gia Long hoang tưởng dựng lên từ năm Nhâm Tuất 壬戌 1802. Tiếp nối từ 9 đời quan thái thú trên đất Thuận Hóa Phú Xuân đã được con cháu, dòng tộc, các sử gia Nguyễn tôn xưng là chúa. Chúa gì ở đây? Đất phương Nam-xứ Đàng Trong. Thử hỏi?
Chốt lại, chính một tay lãnh tụ kháng chiến Hồ Chí Minh đã ra tay triệt hạ, diệt gọn chế độ phong kiến vương triều Nguyễn với non thế kỷ rưỡi cai trị bóc lột, hãm hại nhân dân ba miền đã từng ký kết, lòn cúi, trải chiếu rước giặc ngoại bang kéo vào tàn phá đất nước, biến đất nước trở thành nước nô lệ dưới quyền cai trị hà khắc của họ, thực chất là của nhà nước thực dân Pháp trá hình.
Viết thêm đoạn. Việc ngày nay rất nhiều các thế lực từ trong nước, ngoài nước đứng lên bảo vệ, tìm mọi cách lập luận cho Nguyễn Ánh Gia Long chính là người thống nhất đất nước, còn Tây Sơn, Quang Trung không phải là người thống nhất. Thực tế thì khác xa, như những gì chúng tôi đã trình bày. Ở đây, câu chuyện lịch sử, nó đòi hỏi một người khi bước lên làm vua thì cần phải có tính "chính danh", nếu không có thì không được, xét ra Nguyễn Ánh Gia Long có gì đâu? Cho dù Nguyễn Ánh từng xin triều Thanh sắc phong, đặt tên là vua nước Nam Việt 南越, chẳng hiểu thế nào đổi lại là Việt Nam 越南. Thực tế thì sự sắc phong, công nhận đó của triều Thanh không có chút giá trị nào. Bởi trước đó triều Thanh chẳng từng bị Quang Trung đánh dẹp, đuổi chạy bán sống bán chết, xì khói trắng khói đen khỏi đất nước mà họ dự định thiết lập nền đô hộ hay sao? Theo chúng tôi, việc Nguyễn Ánh danh chính ngôn thuận lên làm vua chính là do người Pháp dựng lên. Cho nên sau đó cũng do chính người Pháp đã hạ bệ các vua con cháu Nguyễn Ánh xuống rất dễ dàng. Không tốn chút công sức. Có điều các nhà sử học ngày nay, cũng như con cháu tộc Nguyễn Gia Miêu có dám xác nhận sự thật này không mà thôi. Xin nhắc lại, để làm vua của một đất nước, thể chế, thì một người cần phải có tính "chính danh" của nó, trước hết, đó là công sức đánh đuổi ngoại bang qua các thời kỳ, nếu có, thứ hai, là được sự đồng thuận của người dân đất nước đó. Thiếu hai tính "chính danh" này thì địa vị, quyền hạn vua chúa ấy chỉ là con số không. Cho dù kẻ đó từng được trao ấn kiếm truyền thừa dòng họ, thêm được sắc phong, sự công nhận từ quyền lực các nước lân bang, liên kết. Về hai khoản "chính danh" này thì Nguyễn Ánh Gia Long và các vua cháu chắt hoàn toàn trắng đôi bàn tay. Không thể mang ra so sánh với Tây Sơn, với các anh em Tây Sơn, nhất với Quang Trung Nguyễn Huệ, linh hồn cuộc khởi nghĩa đứng lên tập hợp quân dân lập chiến khu, căn cứ địa trẩy quân dẹp loạn cát cứ, đánh đuổi ngoại bang, tiến tới thống nhất đất nước, đường đường chính chính bước lên xưng vương được.
Tính "chính danh" như đã nói còn được áp dụng cho tất cả các thể chế, triều đại của các đất nước, quốc gia xưa và nay, không riêng thời phong kiến của Việt Nam 越南. Cũng xin đưa ra ví dụ, các cán bộ nhà nước Việt Nam 越南 hiện nay nếu một người được bầu lên chức chủ tịch nước, thủ tướng, tổng bí thư mà không qua lá phiếu bầu của người dân các nơi, mà chỉ được thông qua lá phiếu của tổ chức, đoàn thể, nơi người đó làm việc, công tác, thì những chức tước, địa vị đó thật ra cũng không có giá thực tiễn bao nhiêu. Bởi vì không có giá trị thực tiễn, tức người được dân bầu, cho nên nội bộ chính quyền Việt Nam 越南 luôn luôn có sự lục đục, xung đột, tranh chấp xảy ra triền miên, miệt mài, từ công khai đến bí mật. Nó chẳng khác nào sự tranh chấp quyền lực xảy ra thời phong kiến trước kia, xin tiến cử những tranh chấp của vương triều Nguyễn, cụ thể là câu chuyện giữa Nguyễn Phúc Hồng Nhậm-Tự Đức với người anh Nguyễn Phúc Hồng Bảo. Chính bài thơ luật Đường Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan đã vén màn bí mật cho lịch sử biết rõ bà Phạm Thị Hằng-Từ Dũ, mẹ của Nguyễn Phúc Hồng Nhậm đã âm mưu giết Nguyễn Phúc Hồng Bảo để chiếm ngôi vua cho con của mình...
Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng 𝗸𝗵𝗼̂́𝗰 xa đưa vẳng trống 𝗱𝗼̂̀𝗻.
Gác 𝗸𝗶𝗲̂́𝗺 𝗾𝘂𝗮𝗻 ông 𝗿𝗼̛̀𝗶 𝗵𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 phố,
𝗠𝗼̛̉ 𝘁𝗵𝘂̛̀𝗻𝗴 𝗻𝗵𝘂̣𝗰 tử 𝗻𝗵𝗮̣̂𝗽 cô thôn.
𝗥𝘂̛̀𝗻𝗴 𝗰𝗮̂𝘆 gió cuốn chim 𝗸𝗲̂𝘂 𝘁𝗼̂̉,
𝗥𝗮̣̆𝗻𝗴 liễu mưa 𝘀𝗮 khách bước 𝗰𝗵𝗼̂̀𝗻.
Kẻ chốn 𝗟𝗼𝗻𝗴 đài người lữ thứ,
Biết ai mà kể nỗi hàn ôn.
Hai câu thực "Gác 𝗸𝗶𝗲̂́𝗺 𝗾𝘂𝗮𝗻 ông 𝗿𝗼̛̀𝗶 𝗵𝘂𝘆𝗲̂̃𝗻 phố, 𝗠𝗼̛̉ 𝘁𝗵𝘂̛̀𝗻𝗴 𝗻𝗵𝘂̣𝗰 tử 𝗻𝗵𝗮̣̂𝗽 cô thôn" cho biết cái chết của vua Thiệu Trị-Miên Tông không phải là cái chết bình thường, cả cái chết của Nguyễn Phúc Hồng Bảo trong ngục tối. Có thể Hồng Bảo bị giết bằng cách treo cổ, rồi vu là tự sát. Những chữ in đậm là chỉnh sửa, phục hồi câu chữ của chúng tôi. Còn bài thơ hiện tồn tại, lưu truyền trong văn học xã hội và nhà trường từ ấy đến nay là bài thơ đã bị chỉnh sửa, không còn nguyên bản gốc được nữa. như "𝗟𝗼𝗻𝗴 đài" là nơi quàn thi thể vua Thiệu Trị sau khi chết, đã bị sửa thành "Chương Đài", thuộc điển tích văn học trung Hoa.
Tính "chính danh" để làm được những việc hữu ích, có lợi cho nước, cho nhân dân đã được Hồ Chí Minh, người khai sáng nhà nước Việt Nam, đưa vào trong những lời dạy cán bộ mà ít có người chịu lưu ý. Cần-Kiệm-Liêm-Chính/Chí-Công-Vô-Tư. "Chính" của Cần-Kiệm-Liêm-Chính chính là tính "chính danh" để làm được chức này, việc kia vậy. Có thể hiểu ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh như sau. Nếu một người được dân tin tưởng, bỏ phiếu bầu ngồi vào chức tước, địa vị nào đó, thì người đó sẽ luôn sống hết mình vì nhân dân, đất nước. Còn nếu một người nào đó mà không được dân tin tưởng, đứng ra bầu bán trực tiếp, mà chỉ do tổ chức, đoàn thể xếp đặt, đưa lên, thì sẽ không việc gì mà họ không làm được, nói gì ba việc vặt như cần-kiệm-liêm, vvv...
Ở trong Phật giáo tính "chính danh" còn được thể hiện rất rõ qua lộ trình tu tập gọi tắt là Giới-Định-Tuệ. "Giới" ở đây có nhiều nghĩa, ngoài nghĩa những điều răn, giới điều, những giới cấm, thì nghĩa còn lại dùng để chỉ cho không giới, hỏa giới, hải giới, địa giới, cương giới. Dựa vào đây, Giới-Định-Tuệ của Phật giáo, thật ra Giới-Định-Tuệ không riêng của Phật giáo, mà nó là của nhân loại, của loài người, của tất cả mọi quốc gia, đất nước, dám nói Nguyễn Ánh Gia Long đã vi phạm vào gần hết các giới đã nói khi tổ chức, cấu kết tay trong, tay ngoài rước giặc ngoại bang vào tàn phá đất nước, chống lại quân đội bảo vệ biên cương, tổ quốc Tây Sơn ngày ấy. Cho nên việc lên ngôi, xưng vương, làm vua cai trị nhân dân của Nguyễn Ánh thật ra là không giá trị, nên người dân không thể sống yên ổn, hạnh phúc trong thể chế bóc lột, cướp giựt, muốn bỏ tù ai là bỏ, muốn chém ai là chém ấy cho nổi. Đó là lý do chính đáng, thiết yếu để người dân Việt các thời kỳ đã quyết liệt đứng lên phất cờ khởi nghĩa chống lại tập đoàn, thể chế chính trị do Nguyễn Ánh lập lên ngay từ lúc ban sơ. Sự việc kéo dài mãi đến thời Bảo Đại với sự xuất hiện của Chính quyền lâm thời cách mạng Hồ Chí Minh cũng không ngoài mục đích là cần phải quét sạch ngay lập tức thể chế bóc lột, chém giết, rước ngoại bang, tôn thờ ngoại bang của dòng tộc phong kiến này. Và sự việc đã diễn ra đúng như thế.
Vua Quang Trung như đã nói ngoài việc bảo vệ cương giới, lãnh thổ quốc gia, ngài còn đự định táo bạo hơn nữa khi tuyên bố sẽ dưỡng binh hùng tướng mạnh trong 10 năm, sẽ kéo qua Tàu thư hùng một trận biết người biết ta, lấy lại hai đất Lưỡng Quảng cho tổ tiên, dân tộc đã bị họ chiếm đóng từ xưa. Rất tiếc mộng đánh Tàu của ngài đã đang thực hiện thì bất ngờ vào tháng Bảy âm lịch năm Nhâm Tý 壬子 1792 ngài ra đi, để lại một trời tan tác cho đất nước, dân tộc với niềm tiếc thương vô hạn. Từ đó con người làm nên lịch sử với những trận đánh bất tử mở ra một triều đại "chính danh" cho thể chế, cho đất nước đã lọt vào tay vua anh Thái Đức Nguyễn Nhạc vốn chỉ là người ham vui dật lạc bên gái đẹp rượu ngon hơn là việc triều chính, lo cho dân cho nước. Tiếp đó là sự thoán đoạt, thừa nước đục thả câu của Nguyễn Ánh. Nhà Tây Sơn chính thức cáo chung từ đây, năm Nhâm Tuất 壬戌 1802. Nhường lại cho Gia Long, mở ra triều đại mới với 13 đời vua không hề có tính "chính danh" như triều đại của Quang Trung Nguyễn Huệ tuy chỉ với "Năm năm hùng cứ một phương hải tần" thiết nghĩ là đã quá đủ để người dân Việt xưa cũng như nay đưa ngài vào cõi vĩnh hằng, bất tử mãi mãi với non sông, với dân tộc.
Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh ninh.
Ngâm nga mong gửi chữ tình,
Dường này âu hẳn tài lành trượng phu.
(CHINH PHỤ NGÂM, khổ 103-Bắc cung Hoàng hậu Hoàng Thị Thu Mai)
Tóm lại. Lịch sử là những câu chuyện, những sự kiện đã từng xảy ra, ở đó cái gì đúng thì tự nó đã đúng, cái gì sai tự nó cũng đã sai, còn người đọc, học, nghiên cứu lịch sử thực chất chỉ là những phạm nhân đã đang cải tạo, học tập do vi phạm pháp luật nhà nước, chính quyền sở tại. Tôi anh chị muốn mau ra tù, được trả tự do về nhà tu tỉnh, chí thú làm ăn với gia đình, vợ con thì tôi anh chị cần phải cải tạo, học tập, lao động thật tốt, chuyện có nói có, chuyện không nói không, không được nói sai, bẻ cong sự thật, phản quốc cho là yêu nước, yêu nước cho là phản quốc, bạn cho là thù, thù cho là bạn, đúng cho là sai, sai cho là đúng, vvv... Học, đọc, nghiên cứu lịch sử mà như thế thì còn lâu mới được ra tù, còn lâu mới thấy được chân trời tự do, mới thấy được chân lý, sự thật.

-
{{comment2.CustomerName}}
{{comment2.CreateDate | jsDate | date:'dd/MM/yyyy HH:mm'}}
{{Lang.reply}} | {{Lang.like}} ({{comment2.LikeYes}})
{{Lang.read_more}} {{Lang.comments}}